THÔNG TIN Y KHOA | NỘI SOI - TIÊU HÓA

Tìm hiểu về ung thư thực quản

Ung thư thực quản có thể xẩy ra ở bất cứ vị trí nào trong ống thực quản.Mặc dù tần suất ung thư thực quản tương đối thấp nhưng tỷ lệ mắc bệnh có vẻ tăng dần trong thời gian gần đây. Yếu tố góp phần cho xu hướng này là tỷ lệ bệnh nhân béo phì, làm tăng nguy cơ bị ung thư dạng tuyến của thực quản.

TRIỆU CHỨNG


Triệu chứng của ung thư thực quản thường rất nghèo nàn ở giai đoạn sớm và chỉ xuất hiện rõ ràng vào giai đoạn trể. Khi khối u đã phát triển, triệu chứng phổ biến nhất là khó nuốt. Tình trạng khó nuốt, đau ngực và nghẹn sẽ dẫn đến giảm cân nhanh. Những dấu hiệu khác khi bệnh tiến triển bao gồm nuốt đau, khàn tiếng, nấc, viêm phổi, và tăng canxi máu.

 

1. Triệu chứng lâm sàng:


• Khó nuốt, cảm giác nặng và tức nghẹn sau xương ức khi nuốt

• Tăng tiết nước bọt, ứa nước dãi, nấc…

• Đau vùng sau xương ức, khó thở tăng dần.

• Khi u xâm lấn và phá huỷ vào các cơ quan ở trung thất như khí-phế quản, màng phổi, các mạch máu lớn… thì sẽ xuất hiện các triệu chứng của các biến chứng nặng toàn trạng bệnh nhân gầy sút, thiếu máu,suy kiệt.

 

 

2. Triệu chứng cận lâm sàng:


• X.quang:

 

• Soi và chụp thực quản có uống thuốc cản quang (tư thế thẳng, nghiêng, chếch trước-phải, chếch trước-trái): hình thực quản bị chít hẹp lại. Có thể thấy hai loại hình ảnh.

 

+ Thể sùi: chỗ thực quản hẹp có bờ viền khuyết nham nhở, không đều.

+ Thể thâm nhiễm: lòng thực quản bị chít hẹp lại, viền chỗ chít hẹp ngoằn ngoèo.

 

Chụp dạ dày cản quang tư thế Trendelenburg nhằm xác định liên quan của khối ung thư thực quản với vùng tâm vị và dạ dày.

 

• Nội soi thực quản:

Xác định chính xác vị trí, hình dạng khối u, mức độ chít hẹp lòng thực quản, tình trạng loét và sùi của bề mặt khối u. Nội soi còn cho phép sinh thiết để xét nghiệm tế bào học và tổ chức học để xác định chẩn đoán.

 

• Chụp cắt lớp vi tính (CT):

Xác định chính xác vị trí và hình thái khối u, mức độ chít hẹp lòng thực quản, đặc biệt xác định được tương quan giải phẫu cũng như mức độ xâm lấn của khối u đối các cơ quan khác trong trung thất.

 

NHÓM NGUY CƠ

 

Nam giới bị ung thư thực quản gấp 3 lần nữ giới, chủ yếu do nam giới sử dụng thuốc lá và rượu nhiều hơn. Những người trên 65 tuổi có nguy cơ ung thư thực quản cao nhất. Chỉ có ít hơn 15% bệnh nhân là dưới 55 tuổi.

 

Thuốc lá và rượu. Sử dụng thuốc lá có liên quan đến ung thư thực quản, Mặc dù rượu không phải là yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, nhưng sự kết hợp giữa uống rượu và hút thuốc lá sẽ làm tăng nguy cơ nhiều hơn một mình nó.

Bệnh béo phì. Nguy cơ phát triển ung thư này cao hơn ở nam giới và phụ nữ béo phì.

 

Bệnh thực quản. Những người có bệnh trào ngược thực quản lâu năm hoặc có niêm mạc Barrett có nguy cơ cao bị ung thư thực quản.

 

Chế độ ăn uống. Chế độ ăn ít rau quả và trái cây có thể làm tăng nguy cơ ung thư thực quản.

 

PHÒNG NGỪA


Hạn chế thuốc lá và rượu có thể làm giảm đáng kể nguy cơ ung thư thực quản. Vận động thể chất thường xuyên, giữ trọng lượng cơ thể ổn định và chế độ ăn uống hợp lý, cân bằng với nhiều trái cây và rau cũng có thể giúp ngăn ngừa căn bệnh này. Một số nghiên cứu cho thấy nguy cơ ung thư thực quản giảm ở người thường xuyên dùng thuốc Aspirin hoặc các thuốc kháng viên không steroid, như ibuprofen.

 

Vấn đề tầm soát đối với người có nguy cơ trung bình đối với ung thư thực quản không được khuyến cáo. Những cá nhân có nguy cơ ung thư thực quản cao có thể được tư vấn để làm một vài xét nghiệm để phát hiện ung thư ở giai đoạn đầu khi có thể điều trị được, thường dùng nhất là Nội soi. Các nhóm có nguy cơ cũng nên biết về các triệu chứng báo động để đến bác sĩ ngay khi có nghi ngờ.

 

Điều trị ung thư thực quản bao gồm phẫu thuật, hóa trị và xạ trị (thường kết hợp). Khi kết hợp với các phương pháp điều trị khác, phẫu thuật có thể làm giảm triệu chứng, kéo dài cuộc sống hoặc cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

 

UNG THƯ THỰC QUẢN Ở HOA KỲ NĂM  2011:

Số ca mới : 16,980

Tử vong : 14,710

Sống 5 năm ung thư tại chỗ : 37%

Sống 5 năm với ung thư di căn : 17%

 

VẤN ĐỀ CHẤT LƯỢNG SỐNG


Từ thời điểm chẩn đoán, chất lương sống của bệnh nhân bị ảnh hưởng đáng kể về mặt tâm lý, thể chất và tinh thần. Các lo lắng hay gặp bao gồm: sợ bệnh tái phát, các triệu chứng đau mãn tính và/hoặc cấp tính; rối loạn hoạt động tình dục; mệt mỏi; cảm giác hối hận vì đã không tầm soát sớm hay đã có các thói quen xấu dẫn đến ung thư; thay đổi trong hình thức bên ngoài; trầm cảm; mất ngủ; các nỗi lo về chi phí và lo lắng về gia đình.

 

KẾT LUẬN


Ung thư thực quản thường được chẩn đoán ở giai đoạn trễ và có tiên lượng sống sót rất thấp. Nguy cơ mắc bệnh có thể giảm bằng cách ngưng hoặc không sử dụng thuốc lá và rượu. Việc tầm soát bằng nội soi ở những người có nguy cơ cao có thể giúp tăng tỷ lệ phát hiện bệnh sớm.



ĐỐI TÁC CỦA CHÚNG TÔI

Bumrungrad International Hospital

KhamOnline